TƯ VẤN THIẾT KẾ HỆ THỐNG TƯỚI CHO CÂY BƯỞI.

11/04/2018 | 21
Cây bưởi cần nhiều nước, nhất là trong thời kỳ ra hoa và kết quả nhưng cũng không chịu ngập úng. Bên cạnh thiết kế hệ thống rãnh thoát nước vào mùa mưa thì vào mua nắng việc lắp hệ thống tưới điều phối lượng nước cung cấp sao cho phù hợp là rất cần thiết.

I. Miêu tả.

1. Đặc điểm sinh thái.

Cây bưởi là cây thân gỗ, cao trung bình, vỏ thân màu vàng nhạt, cành có gai dài nhọn, lá hình trứng, hoa kép mọc thành chùm, quả hình cầu to, vỏ dày, màu sắc tùy theo giống, bề rộng tán, mức độ lan của bộ rễ ít nhất là 10 năm.

Hiện nay có nhiều giống bưởi: bưởi Đoan Hùng, bưởi Năm Roi, bưởi Tân Triều, bưởi da xanh…

2. Kỹ thuật trồng.

1 số kỹ thuật chăm sóc bà con cập nhập thông tin phù hợp với từng địa phương, khí hậu, phân bón, kích hoa, thuốc phòng trừ sâu bệnh...

Một số điểm lưu ý khi bắt đầu trồng:

2.1. Nước: 

Cây bưởi cần nhiều nước, nhất là trong thời kỳ ra hoa và kết quả nhưng cũng không chịu ngập úng. Độ mặn trong nước tưới không quá 0,2% (2g muối/lít nước).

2.2. Đất trồng: 

Đất cao đào hố ngang mặt đất và đắp vồng để dễ tưới trong mùa nắng, mùa mưa phá vồng để cây khỏi bị úng nước và bị chảy khi úng. Kích thước liếp rộng 5-8m, chiều dài tuỳ theo kích thước vườn nhưng không nên dài quá 30m. Quanh vườn nên đào mương rộng từ 1,5 - 2m, sâu 1-1,2m và đắp bờ cao; mương nội đồng rộng từ 0,5-1m, sâu 0,8-1m. Khi đào mương nên chú ý không nên đem lớp đất phèn (nếu có) lên mặt liếp, nếu đất chua cần bón vôi để nâng pH = 5,5 - 6.

Nên chú ý đặt cống để điều tiết nước, hàng năm cần sửa sang liếp bằng cách bồi một lớp mỏng bùn và mở rộng mép liếp khi có thể.

2.3. Giống:

Nên trồng cây bưởi chiết, vì rễ ăn ngang tránh gặp tầng sinh phèn, mau ra trái, bảo đảm chất lượng giống hệt cây mẹ. Cây bưởi chiết có tuổi thọ khá cao.

2.4. Quy cách trồng.

- Tầm quan trọng của khoảng cách trồng là một trong những công đoạn đầu tiên trong quy trình thiết kế vườn trồng, đóng vai trò then chốt trong thâm canh, đảm bảo trái ra đều không bị cách năm.

- Kích thước trồng chuẩn: Hố trồng bưởi đào theo hình vuông, kích thước 0,6x0,6m. Khoảng cách trồng 5x5m. Trong 3, 4 năm đầu, có thể trồng xen những loại cây ngắn ngày.

Tùy theo vùng miền kích thước trồng thay đổi.

Khu vực miền tây ( Bến Tre, Sóc Trăng, Tiền Giang...), điều kiện đất bồi phù sa, khí hậu 2 mùa rất thích  hợp cho cây bưởi nên khi lên liếp (luống) sẽ rộng: 4m và dài 5m (hoặc 5x6m), rãnh con khoảng 30-50cm.

Khu vực miền Bắc do bất lợi khí hậu, ảnh hưởng sự phát triển của cây ( bề rộng tán, chiều cao cây...) vì vậy mức độ vươn của rễ cũng tương ứng, nên khoảng cách trồng thu hẹp 4.5x4.5m.

II. Hướng dẫn lắp ráp hệ thống tưới.

2.1.  Khảo sát thông số đầu vào.

- Quy mô kích thước khu đất.

- Quy cách trồng: Cây cách cây bao nhiêu?, hàng cách hàng bao nhiêu?.

- Độ tuổi của cây? (hoặc mới trồng)

- Địa thế khu vườn: Vuông, méo...Địa hình: phẳng hay dốc.

- Vị trí nguồn: Vị trí Bơm, khoảng cách đến vườn bao xa?...

- Xác định công suất bơm: Tính theo lưu lượng bơm bao nhiêu m3/h là tốt nhất ( không tính theo ngựa HP.

2.2. Lựa chọn vật tư.

Có nhiều phương án tưới phù hợp chi phí cũng như hiệu quả tưới mang lại.

- Lựa chọn béc tưới:

Hiện tại Asop cung cấp 2 sản phẩm béc tưới tối ưu và phù hợp quy cách trồng cây bưởi: béc chống côn trùng bù áp 25l/h, với bán kính tưới 0.9m (cây con dùng 1 béc, cây lớn 2 béc) và S2000 bù áp 53l/h với bán kính tưới lên đến 3.5m (bán kính tưới chỉnh được không cần van khóa).

Với 2 dòng sản phẩm như trên có thể chọn phương án tưới gom từng gốc và tưới phả ( nếu trong 1,2 năm đầu trồng xen canh...) tùy theo khách hàng lựa chọn.

- Lựa chọn đường ống chính (ống cái)

Ống chính (ống cái)  thường lựa chọn ống uPVC, HDPE, PPR...tùy theo quy mô vườn, khoảng cách nguồn đến vị trí tưới mà chọn đường kính cho phù hợp.

+ Ống nhựa HDPE có thể kết nối với chiều dài liên tục mà không cần mối nối cùng với khả năng uốn cong linh hoạt, khi ghép nối yêu cầu phải có các thiết bị hàn gia nhiệt chuyên dụng, không thể nối bằng gioăng cao su do khó tạo đầu nong ngay trên ống để nối bằng gioăng cao su …

+ Ống nhựa uPVC lại có ưu điểm về khả năng ghép nối dễ dàng. nhược điểm là không thể tạo ra được một đường ống dài liên tục vì uPVC cứng và không uốn cong được.

+ Ống nhựa chịu nhiệt PPR có lợi thế là có thể chịu được nhiệt độ lên đến 950C và có độ bền vượt trội hơn so với các loại ống nhựa khác.  Cần phải có thiết bị ghép nối chuyên dụng cùng với đó là giá bán cao hơn so với các loại ống nhựa khác.

--> Căn cứ ưu điểm và chi phí hợp lý tuyến ống chính vẫn chọn ống uPVC làm hệ thống tưới.

- Thiết kế ống chính phải dựa vào lưu lượng của máy bơm.

+ Nếu bơm có lưu lượng dưới 15m3/h thì có thể sử dụng đường ống 49mm.

+ Nếu bơm có lưu lượng dưới 15-20m3/h thì có thể sử dụng đường ống 60mm.

+ Nếu bơm có lưu lượng dưới 20-30m3/h thì có thể sử dụng đường ống 76mm.

+ Nếu bơm có lưu lượng dưới 30-50m3/h thì có thể sử dụng đường ống 90mm hoặc 2 đường ống 60mm.

+ Nếu bơm có lưu lượng dưới 50-100m3/h thì nên sử dụng 2 đường ống 90mm.

-->Tóm lại, khi thiết kế hệ thống ống cho hệ thống tưới bù áp phải nhớ những đặc điểm sau là:

- Lưu lượng của bơm (được đo từ thực tế, không dựa trên công suất tiêu thụ điện)

- Khả năng đảm tải của ống (bao nhiêu mét khối nước trong 1 giờ)

- Chiều dài tối đa cho phép của ống dẫn bù áp (ống nhánh 16mm hoặc 20mm)

- Địa hình

- Lựa chon ống nhánh:

Trong hệ thống tưới tối ưu nhất chon ống nhánh LDPE ( không nên chọn chọn PVC làm ống nhánh). Ưu điểm ống LDPE là ống nguyên sinh này có độ bền cao và khi đấu nối với đường ống nhỏ có thể dễ dàng bịt lại khi đấu sai, có thể rút khởi thủy ra vô nhiều lần mà không bị xì nước...

Thông thường tuyến ống nhánh với 2 sự lựa chọn tối ưu nhất là ống LDPE 16mm và LDPE 20mm.

+ Ống nhánh LDPE 20mm đi được khoảng cách tối đa là 50m, số lượng tối đa là 45 bù áp béc 25l/h, bù áp 20l/h thì đi được xa hơn.

+ Ống nhánh 16mm đi được khoảng cách tối đa là 35m, số lượng tối đa là 30 bù áp béc 25l/h, bù áp 20l/h thì đi được xa hơn.

--> Điều kiện nào tới trước thì áp dụng điều kiện đó để đạt mức đồng đều cao.

--> Với các dòng sản phẩm béc bù áp bên Asop cung cấp giúp cho đường ống nhỏ đi nhiều so với không sử dụng bù áp đối với hệ thống tưới, tiết kiệm chi phí vật tư, vận chuyển và thi công...

2.3. Thiết kế hệ thống ống tưới.

Câu hỏi đặt ra: Nên chia đường ống chính giữa vườn hay chia chữ U.

Câu trả lời:  Ống chính chia giữa vườn hoặc chia chữ U hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng đảm tải của ống nhánh.

Bên cạnh đó phụ thuốc vào quy mô vườn, khoảng cách, chia cho phù hợp, thường chia theo chữ U tối ưu lưu lượng nước ở các béc đạt độ đồng đều rất cao nhưng chi phí ống chính uPVC tăng lên.

Không có một khuôn khổ nào cho thiết kế mà chỉ có bản thiết kế tối ưu hay không mà thôi. Một bản thiết kế tốt là một bản thiết kế vừa tiết kiệm chi phí đường ống mà lại đạt độ đồng đều nước ra các gốc cao nhất.

sw.png (70 KB)

Ta thấy rõ ràng với quy cách trồng quá xa buộc ta nên chia chiều dài ống nhánh ở một khẩu độ ứng với lưu lượng tối đa cho phép của ống đó như đã phân tích ở trên. Tất nhiên là hình bên phải sẽ tốn kém vật tư hơn hình bên trái nhưng do xem xét độ đồng đều thì phải xét tới chi phí đầu tư so với độ đồng đều. Mặc dù hệ thống tưới bù áp có thể dẫn đi xa được nhưng không phải là không có độ chênh lệch nếu như dẫn quá xa. Càng xa thì độ đồng đều càng thấp, có thể xuống dưới 90%.

2.5. Trạm điều khiển trung tâm.

Trạm điều khiển trung tâm gồm: Bơm, hệ thống lọc, đồng hồ đo áp, xả khí, các van tập trung, bộ hút phân  ASOP thiết kế theo quan điểm  tập trung hết về một chỗ.

Thế mạnh khi van tập trung hết về một chỗ: Vì khi tưới chúng ta dễ nhận thấy sự cố, đặc biệt là hạn chế được trường hợp đóng mở nhầm van. Sự chênh lệch về mức đầu tư đối với trường hợp gom van về tập trung một chỗ là không quá cao. Dựa vào đây mà chi phí vận hành được giảm đi rất nhiều.

2.6. Bơm.

Khi thiết kế điều xét đến tiếp theo là lưu lượng của bơm.

Và câu hỏi khách hàng đều hỏi là bơm 3 ngựa (có khi là 2 ngựa, 5 ngựa...) thì có thể tưới được bao nhiêu gốc một lần. Câu trả lời là không có một chuẩn chung nào của bơm cả. Bơm có đường cong đặc tính bơm nhưng nó cũng chỉ là lý thuyết được lập nên từ thực tế đo được mà thôi.

Do đó, nếu chúng ta muốn biết một máy bơm có thể tưới được bao nhiêu gốc thì chỉ có một cách duy nhất là ráp vào và đo thử lưu lượng nước ra tại vị trí cần tưới thì mới có được số liệu chính xác. Tại sao lại như vậy? Mỗi điều kiện khác nhau cho ra một thực tế khác nhau.

Đối với bơm đẩy lên dốc thì ống to lại khó đẩy hơn ống nhỏ vì ma sát thành ống của ống to ít nhưng lực nén của nước hồi trả về nhiều còn ống đẩy xuống dốc thì càng to càng lợi về lực. Rồi trường hợp xuống dốc quá thì phải giảm đường kính ống lại và sử dụng van chỉnh áp lực nhằm giảm áp tránh hiện tượng cao áp gây bể ống, xì ron, tụt khởi thủy...

Cách tốt nhất để chống cháy bơm, nặng bơm đối với trường hợp đẩy lên dốc là đi đường ống nhỏ lại.

Thông thường nguồn nước ở nơi có cao độ thấp phải được đưa tới nơi có cao độ cao và cho chảy vào hồ sau đó dùng bơm nhỏ đẩy đi tưới. Chỉ cần một bơm nhỏ là lợi thế về nước trên cao đổ xuống có khả năng tưới được rất nhiều gốc một lần. Điều này tuy là tốn kém hơn so với tưới trực tiếp từ dưới lên nhưng không quá tốn kém như chúng ta thường nghĩ. 

2.7. Trường hợp bất khả kháng bắt buộc tưới từ dưới lên.

Một số lưu ý:

- Nhiều khách hàng khẳng định là đất tôi dốc 30 độ, đất tôi dốc 45 độ hoặc dốc 70 độ, thậm chí dốc 90 độ là hoàn toàn không chính xác. (vì 90 độ không được gọi là dốc mà là phương thẳng đứng.) Thông số dốc được tính bằng %, dốc 100% tương đương với 45 độ.

- Trong hệ thống tưới không ai quan tâm tới độ dốc bao nhiêu cả mà chỉ quan tâm tới chênh lệch cao độ là bao nhiêu vì lực nước được tính bằng cột áp và tổn hao đường ống.

qa.JPG (22 KB)

Nhìn vào hình trên, ta sẽ thấy một điều là tại vị trí A, vị trí B, và vị trí C sẽ cho ra lưu lượng nước hoàn toàn khác nhau.

Giả sử chênh lệch độ cao giữa A và C là 40m (tương đương với 4kg/cm2).

Giả sử chiều dài AC là 200 mét thì ta có độ dốc là 40/200 bằng 20%.

--> Ta thấy rằng để gánh vác nhiệm vụ tưới của bơm tại vị trí C thì áp tổng cộng bơm phải đẩy cao được là trên 50m. Lưu ý là ở đây là áp cao chứ không phải chiều dài.

 Ta sẽ thấy ứng với lưu lượng tại A ta sẽ có số lượng gốc tưới khác với vị trí B và vị trí C.

--> Mong rằng nhìn vào hình trên sẽ không ai còn hỏi bơm 3hp thì có thể tưới được bao nhiêu gốc một lần nữa.

Giả sử tại vị trí A có lưu lượng là 20m3/giờ, vị trí B có lưu lượng là 15m3/h, vị trí C cơ lưu lượng là 8m3/giờ.

Câu hỏi đặt ra: Làm sao ta có thể biết được vị trí nào có lưu lượng bao nhiêu?

--> TL: Chúng ta đo bằng cách lấy một đồng hồ bấm giây và một thùng phuy khoảng 100lít hoặc 200lít. Sau khi bật bơm chạy ổn định ta bắt đầu chu trình đo nước. Chúng ta đưa dòng nước đang chảy vào thùng phuy và bấm thời gian. Sau khi nước chảy đầy phuy thì chúng ta bấm thời gian để xác định thời gian một phuy đầy trong vòng bao nhiêu giây. Nếu theo số chẵn 30giây, 60 giây, 120 giây thì xác định lưu lượng đối với phuy 200lít tương ứng sẽ là 24m3/giờ, 12m3/giờ và 6m3/giờ. 

Tham khảo video cách đo bơm tại đây:

Công thức tính lưu lượng bơm tại vị trí bất kỳ như sau

3600 x thể tích phuy

Lưu lượng  =   -------------------------------

1000 x số giây đo được

Ví dụ: đo được là 45giây đầy phuy 200lít, ta tính như sau

3600 x 200

Lưu lượng  =   --------------------- = 16 (m3/giờ) = 16.000 (l/giờ)

1000 x 45

Lưu ý: Phải quy đổi lưu lượng ra m3/giờ hoặc lít/giờ. Đó là vì thông số tính toán của nút bù áp được tính là lít/giờ.

Giả sử vườn sử dụng béc chống côn trùng bù áp 25l/h, ta muốn tính số lượng nút bù áp của bơm có thể tải được là 16.000/25 = 640 nút. Nhưng trên thực tế, phần tổn hao áp trên đường ống tại vị trí đo nước tới nút bù áp cuối cùng chưa được tính toán. Do đó ta phải trừ hao đi khoảng 10-20%, nghĩa là thay vì lắp được 640 nút thì thực tế nên lắp là từ 500 đến 600 nút.

III. Tính toán chi phí đầu tư.

Tùy theo quy mô diện tích, số gốc tưới một lần mà ảnh hưởng nhiều nhất tới chi phí đầu tư đường ống chính. Quy mô số gốc được tưới một lần càng lớn thì càng ảnh hưởng tới chi phí ống chính càng nhiều. Còn các chi phí ống nhánh, ống con gần như là như nhau.

Chủ nhà tự lo phần ống chính và công đào. Công hướng dẫn kỹ thuật ASOP là 400.000 đ/ngày. Chủ nhà thuê công để nhân viên kỹ thuật ASOP hướng dẫn lắp ráp nếu cần.

Đối với trường hợp quy mô diện tích quá nhỏ (tầm 1-2 sào), thông thường máy bơm đáp ứng đủ cho vườn được tưới hết trong một lần tưới. Do đó, chủ nhà có thể tự thi công theo hình thức đơn giản nhất vì việc thiết kế không ảnh hưởng nhiều tới độ đồng đều của hệ thống.

Danh sách tên vật tư bên Asop cung cấp cho 1 hệ thống tưới.

--> Tổng chi phí.

Ngoài ra còn rất nhiều phụ kiện phục vụ cho 1 hệ thống tưới khách hàng tham khảo tại Asop.vn.

--> Giá vật tư và các phụ kiện phục hệ thống tưới xem tại Asop.vn


Bình luận